Viêm dạ dày cấp

98

VIÊM LOÉT DẠ DÀY

Định nghĩa: Viêm loét dạ dày cấp (VDDC) là phản ứng viêm cấp tính chỉ hạn chế ở niêm mạc dạ dày. Có đặc tính là khởi phát và diễn biến nhanh chóng, do tác động của nguyên nhân độc hại hoặc nhiễm khuẩn ở niêm mạc dạ dày.

Nguyên nhân:

– Virus, vi khuẩn, ở Việt Nam virus H.pilory chiếm đa số, sau đó đến nhiễm trùng nhiều độc thức ăn do tụ cầu hoặc E.coli.

– Thức ăn quá nóng, quá lạnh, cà phê, rượu, ớt, chanh, mù tạt.
– Thuốc kháng viêm Aspirin, corticoid, không steroid (Diclofenac, voltarel) vitamin C liều cao.

– Các loại thuốc độc: Trừ sâu diệt cỏ, acid, kiềm v.v…

  1. Giải phẫu bệnh:

– Viêm long niêm mạc: Xung huyết, xuất huyết.
– Viêm trợt, loét sâu vào tổ chức biểu mô và tổ chức tuyến của lớp dưới viêm mạc, gây ra viêm tấy và xuất huyết.

  1. TRIỆU CHỨNG
  1. Lâm sàng

– Đau nóng rát vùng thượng vị (vùng dưới mũi ức và trên rốn) đột ngột không theo chu kỳ. Đôi khi triệu chứng đau âm ỉ về đêm.
– Ấn hoặc gõ vào vùng thương bị đau.
– Có thể gặp nôn và buồn nôn: Thường ở những bệnh nhân nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn.
– Ợ hơi, ợ chua có thể có, lưỡi bữa trắng, miệng hôi.

  1. Xét nghiệm:

– XQ không thấy ổ loét, chỉ thấy viêm mạc thô (chụp XQ có uống thuốc cảm quang) nổi thành cuộn ngoằn ngoèo, thô ráp.
– Soi dạ dày, sinh thiết dạ dày: Thấy hình ảnh tổn thương viêm niêm mạc điển hình:
phù nề, xung huyết, đỏ có khi chảy máu, viết trợt loét.
+ Nếu là nhiễm vi khuẩn: Soi và cấy sẽ thấy
+ Nếu là siêu vi H pilory (HP) phản ứng Clotest (+) và cấy tìm được HP.
Thường bệnh nhân viêm dạ dày do HP triệu chứng không ồn ào, thường chuyển qua giai đoạn mạn tính, dễ bỏ qua nếu không thăm khám và làm xét nghiệm đặc hiệu clotest tìm HP.
– Triệu chứng toàn thân: Mệt mỏi, sốt nhẹ có khi sốt cao 39-400C hoặc không.
III. ĐIỀU TRỊ:

  1. Nếu viêm dạ dày cấp:

– Da ngộ độc thuốc: Phải thông rửa dạ dày nhiều lần bằng dung dịch NaOH 2%, hâm nóng ở 370C. Sau đó uống nước đường, sữa cháo khi bn đã ổn định, truyền dịch bổ sung đường, điện giai, truyền máu nếu mất máu nhiều.

– Do nhiễm trùng nhiễm độc thức ăn: Bn nôn càng nhiều càng tốt để giúp tống nguyên nhận gây bệnh ra ngoài, đây là phản xạ tự nhiên của cơ thể.

+ Do nôn sẽ dẫn đến mất nước, mất muối, tụt huyết áp, mạch nhanh ta phải truyền dịch bổ sung như trên đến khi nào HA ổn định.

+ Dùng trụ sinh: Chlorocid, ganidan, berberin, ổn định uống thêm viên nghệ, bột nghệt. Gastrofuco, novagast, phosphalugel, cimetidin thuốc hạ sốt.

  1. Viêm dạ dày: Do nhiễm siêu vi Helico Bacteri Pilory (HP) xuất hiện ở 90% trường hợp viêm dạ dày tá tràng.

– Đây là bệnh viện dạ dày rất nguy hiểm, ngoài những tổn thương và triệu chứng chung của bệnh viêm dạ dày. Nếu không được phát hiện căn nguyên và điều trị đúng cách sẽ dẫn đến biến chứng nguy hiểm chết người là ung thư dạ dày (K. dạ dày).
+ Thuốc đặc trị: Theo một trong những phác đồ sau đây:
2.1. Phác đồ: 7-10 ngày gồm:
+ PPT 2 viên (sáng, chiều trước ăn 30 phút)
+ Clarytromycine 500mg 2 viên (sáng, chiều)
+ Amoxicilline 1g/viên 2 viên (sáng, chiều)

2.2. Phác đồ 2: 10-14 ngày
+ PPI 2 viên (sáng, chiều)
+ Metronidazol 500mg 3 viên (sáng, trưa chiều) Hoặc:
+ PPI 2 viên (sáng, chiều)
+ Amoxicilin 1g/viên 2 viên (sáng, chiều)
+ Tetracyclin 500mg 4 viên (sáng, chiều)
+ Bismuth subcitrat 120mg/viên (sáng, trưa, chiều, tối)
2.3. Phác đồ 3: Phác đồ cứu nguy 7 ngày
+ PPI 2 viên/ ngày (sáng, chiều)
+ Rifabutin 300mg/viên, ngày 2 viên (sáng, chiều)
+ Amoxicillin 1g/viên, ngày 2 viên (sáng, chiều)
+ Levofloxacin 500mg/viên, 1 viên (sáng) Hoặc: Uống trong 5 ngày
+ PPI 2 viên/ ngày (sáng, chiều)
+ Clarytromycirc 500mg/v, 2 viên (sáng, chiều)
+ Tinidazol 500mg/v 2v (sáng, chiều)
2.4. PPI là gì?
Tên gọi tắt của (Producer Price Index) là loại thuốc ức chế bơm proton, ngăn cản và trung hóa acid trong dạ dày, gồm các thuốc mà ta chỉ dùng 1 trong 5 loại sau đây:
– Omeprasol 20mg, 40mg, 50mg/v
– Pantoprasol 40mg/v
– Lansoprasol 30mg/v
– Rafenprasol 20mg/v
– Ensomeprasol 20mg/v

* Lưu ý:

– Các thuốc này uống theo phác đồ, không uống đại sẽ gây 1 số tác dụng phụ:
+ Rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy, táo bón)
+ Loãng xương
– Nói tóm lại: nên khám và điều trị ở bác sĩ chuyên khoa giàu kinh nghiệm.
BS Trần Quang Tiễu