Những triệu chứng của bệnh tim mạch vành

170

Những dấu hiệu của bệnh tim mạch vành như đau thắt ngực, cảm giác bó thắt, thắt nghẹt là những triệu chứng cơ bản và quan trọng nhất để nhận ra bệnh động mạch vành, cũng có thể là cảm giác bỏng rát, kim châm; đau sâu phía sau xương ức, chính giữa tim, hoặc ngực trái, đôi khi đau ở vùng thượng vị dễ làm lầm tưởng là đau dạ dày.

Đau thắt ngực, khó thở là triệu chứng điển hình của bệnh tim mạch vành
Đau thắt ngực, khó thở là triệu chứng điển hình của bệnh tim mạch vành

Vị trí đau hay gặp là sau xương ức, giữa ngực hoặc vùng tim. Đau có thể tại chỗ hoặc lan lên cổ, hàm, vai hay cánh tay bên trái, ít trường hợp lan ra sau lưng hay vùng cột sống. Cơn đau thường rất ngắn chỉ 10-30 giây hay 1 vài phút; nếu cơn đau kéo dài trên 15 phút là có khả năng đã bị nhồi máu cơ tim.

Đặc điểm của cơn đau thắt ngực do bệnh mạch vành:

– Kiểu đau: Bệnh nhân cảm thấy đau thắt ở ngực, cảm giác lồng ngực bị đè nén như đang chịu một áp lực lớn. Đôi khi có thể là cảm giác nhói buốt, bỏng rát khiến bệnh nhân cảm thấy rất khó chịu.

– Vị trí: Cơn đau xuất hiện ở ngực, dưới xương ức. Sau đó, đau lan ra cổ, hàm, vai, và cánh tay.

– Tính chất: Tùy thuộc vào mức độ tắc nghẽn và số lượng động mạch vành bị tắc nghẽn là mức độ cơn đau có thể nặng hoặc nhẹ. Thông thường, đau thắt ngực sẽ giảm dần khi người bệnh nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giãn mạch. Nếu cơn đau kéo dài dù người bệnh đã nghỉ ngơi, đã dùng thuốc, người bệnh cần được đưa đi cấp cứu ngay để phòng cơn nhồi máu cơ tim.

Các triệu chứng khác bao gồm cảm giác đầy bụng khó tiêu, ợ nóng, mệt mỏi, kiệt sức, buồn nôn/ nôn, bị chuột rút và khó thở.

Bệnh tim mạch vành nếu không có phương pháp điều trị phù hợp và kịp thời có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm bao gồm:

 Nhồi máu cơ tim: Nếu một động mạch vành bị tắc nghẽn hoàn toàn, sẽ dẫn tới cơn nhồi máu cơ tim cấp, khiến người bệnh tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời. Những dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim sớm bao gồm: cảm giác lo lắng, bồn chồn, tâm lý bất an thường xuất hiện đầu tiên; sau đó người bệnh thường cảm thấy buồn nôn, nôn và buồn đi cầu, đổ mồ hôi lạnh, mặt tái mét, kèm theo khó thở, choáng váng và cuối cùng là cơn đau dữ dội ở ngực và lan ra nửa trên của cơ thể.

Các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch vành

– Tuổi: tuổi càng cao càng có nhiều nguy cơ bị bệnh động mạch vành;

– Giới tính: nam thường có nhiều yếu tố nguy cơ hơn nữ trong các bệnh lý tim mạch. Tuy nhiên nữ giới có nguy cơ bị bệnh động mạch vành cao hơn sau khi mãn kinh;

– Tiền sử gia đình: nếu bố mẹ, ông bà hay anh chị bị các tai biến tim mạch khi còn tương đối trẻ tuổi (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), thì bạn có nguy cơ bị bệnh động mạch vành cao hơn;

– Lối sống ít vận động: những người không luyện tập thể dục thường xuyên sẽ có tuổi thọ thấp hơn những người có luyện tập thường xuyên;

– Mắc các bệnh: tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid…

– Hút thuốc lá: hút thuốc làm tăng nguy cơ bị bệnh, không chỉ các bệnh tim mạch mà còn các bệnh khác như ung thư phổi, ung thư vòm họng…

– Uống quá nhiều rượu, bia cũng là một nguyên nhân quan trọng gây ra thiếu máu mạn tính cục bộ ở cơ tim, làm xuất hiện những cơn đau thắt ngực ổn định.

Thay đổi lối sống giúp phòng ngừa bệnh

Mục đích của việc điều trị là làm giãn động mạch vành để máu lưu thông nhiều hơn nuôi dưỡng trái tim tốt hơn. Hiện nay việc điều trị bệnh động mạch vành có thể điều trị nội khoa (dùng thuốc) hoặc có thể thông lòng động mạch vành bị hẹp (angioplasty) hay nối thêm mạch máu bắt cầu qua chỗ nghẽn (bypass surgery). Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp ngoại khoa hay nội khoa thì việc thay đổi lối sống, điều trị một số bệnh có liên quan và tiếp tục sử dụng lâu dài một số thuốc là hết sức cần thiết để điều trị và phòng ngừa cơn đau thắt ngực.

Giải pháp lâu dài và hữu hiệu nhất vẫn là sự thay đổi các thói quen không tốt cũng như kiểm soát các yếu tố nguy cơ nhằm giúp chất lượng cuộc sống tốt hơn. Hãy kiểm soát hoạt động thể lực, tránh các sang chấn tinh thần (stress), các thói quen ăn uống không có lợi cho sức khoẻ, hạn chế uống rượu, bỏ thuốc lá và tránh khói thuốc, kiểm soát tốt các bệnh lý kèm theo để có cuộc sống dễ chịu hơn và khoẻ mạnh hơn.

– Thay đổi lối sống: xây dựng một lối sống thanh thản, vui vẻ, tránh căng thẳng quá mức, nhất là tình trạng stress; thực hiện một chế độ sinh hoạt, làm việc điều độ, sắp xếp công việc hợp lý. Người mắc bệnh động mạch vành thường được khuyên không hút thuốc, không ăn mặn và không ăn quá nhiều chất bột đường.

– Chế độ ăn uống phù hợp: thành phần dinh dưỡng chủ yếu của người bệnh tim mạch bao gồm các loại ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt và rau quả. Nên ăn nhiều các loại rau quả, nhất là các loại rau lá màu xanh đậm, màu vàng và màu đỏ.  Những loại rau quả này có nhiều sinh tố và nhiều chất chống oxy hoá khác, nhất là các sinh tố C, E, A, B2, B6, Acid Folic cần thiết cho nhu cầu chuyển hoá, cho hoạt động của hệ miễn dịch, tăng cường sức bền của mạch máu và bảo vệ thành mạch khỏi sự xâm hại của những gốc tự do. Hạn chế tối đa ăn mỡ động vật, ăn ít đường, bơ, phomát, không nên ăn mặn; những món dưa, cà càng hạn chế. Đặc biệt, không nên ăn các món phủ tạng động vật. Không uống nhiều rượu, bia và những chất kích thích khác.

– Tập thể dục, vận động vừa với sức khỏe: đối với bệnh tim mạch, tập đều đặn tốt hơn là tập với cường độ cao. Đơn giản nhất là đi bộ 30 phút mỗi ngày vào buổi sáng hoặc buổi tối ít nhất 5 lần mỗi tuần. Đi bộ trên máy chạy bộ hoặc đi ngoài trời đều có hiệu quả.

Đồng thời cần phát hiện và điều trị những bệnh liên quan đến bệnh động mạch vành như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, béo phì – thừa cân.

Ngoài ra, nên thực hiện những bài tập thư giãn, dưỡng sinh mỗi lần từ 15 đến 20 phút, 1-2 lần mỗi ngày để giúp tạo ra những đáp ứng thư giãn và giữ được tinh thần lạc quan và sự tự tin. Thực hành tốt những điều này không chỉ có thể  phòng ngừa và điều trị cơn đau thắt ngực mà còn giúp tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống.