Bệnh tim mạch vành là gì ?

298

Bệnh Tim mạch vành là gì ?

Bệnh tim mạch vành (BTMV) là tên gọi cho một số bệnh tim do mạch máu vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Các tên gọi khác của bênh này là bệnh mạch vành, bệnh động mạch vành, bệnh tim do xơ vữa động mạch, bệnh tim thiếu máu cục bộ.

Vai trò của động mạch vành trong cơ thể

Quả tim là một khối cơ rỗng có vai trò giống như một máy bơm. Tim bơm máu đi cung cấp cho toàn bộ cơ thể. Quả tim bao gồm hai phần có chức năng khác nhau: Tim phải nhận máu tĩnh mạch (máu đen) đến từ các bộ phận của cơ thể và bơm chúng lên phổi. Tại đây máu tĩnh mạch được làm giàu ôxy và trở thành “máu đỏ”. Tim trái nhận máu từ các tĩnh mạch phổi (máu đỏ) và bơm chúng lên động mạch chủ để đưa đến các cơ quan qua hệ động mạch ngoại biên. Mỗi phần có buồng nhận máu, được gọi là tâm nhĩ và buồng bơm máu, được gọi là tâm thất. Các tâm thất có thành cơ dày (cơ tim) co bóp đều đặn (tần số khoảng 60 – 70 lần/phút khi nghỉ ngơi) để bơm máu đến các bộ phận khác nhau của cơ thể, làm cho dòng máu chảy trong các động mạch theo nhịp đập của tim.

Bệnh động mạch vành là căn nguyên gây tử vong số một trong các bệnh lý tim mạch hiện nay. Tại Việt Nam, bệnh động mạch vành ngày càng gia tăng và trẻ hóa, gây ảnh hưởng nặng đến sức khỏe người bệnh.
Bệnh động mạch vành là căn nguyên gây tử vong số một trong các bệnh lý tim mạch hiện nay. Tại Việt Nam, bệnh động mạch vành ngày càng gia tăng và trẻ hóa, gây ảnh hưởng nặng đến sức khỏe người bệnh.

Nguyên nhân mắc bệnh tim mạch vành

Nguyên nhân thường gặp ở bệnh mạch vành là do sự hình thành của các mảng xơ vữa trong lòng mạch – một tiến trình chậm chạp kéo dài với sự lắng đọng từ từ của Lipid trong thành động mạch, làm cho thành động mạch ngày càng dày lên, cứng lại và mất tính đàn hồi. Mảng xơ vữa gây các phản ứng viêm, có thể lớn dần lên gây chít hẹp lòng mạch và vỡ ra dễ dẫn đến hình thành cục máu đông gây nhiều biến chứng nguy hiểm như: nhồi máu cơ tim, nhồi máu não. Ngoài ra một số trường hợp mạch vành bị co thắt gây hẹp mạch vành từng lúc cũng có thể gây ra triệu chứng đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim.

Ảnh hưởng của bệnh tim mạch vành lên cơ thể

Để hoạt động được bình thường, cơ tim cần được cung cấp năng lượng và ôxy bởi các động mạch vành. Bệnh động mạch vành xuất hiện khi một hoặc nhiều nhánh động mạch này bị tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn (thường là do các mảng xơ vữa). Thông thường cơn đau thắt ngực có thể xảy ra khi động mạch vành bị hẹp trên 50% khẩu kính của lòng mạch. Khi hoạt động thể lực, cơ thể cần nhiều ôxy hơn nên cơ tim phải làm việc nhiều hơn như: tăng co bóp, tăng tần số tim, huyết áp tăng… do đó nhu cầu ôxy của cơ tim cũng tăng lên. Nếu một nhánh động mạch vành bị hẹp, sự cung cấp máu cho vùng cơ tim tương ứng trở nên không đầy đủ. Cơ tim bị thiếu máu và thiếu ôxy gây cơn đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực này thường xảy ra khi bệnh nhân gắng sức và giảm đi khi bệnh nhân được nghỉ ngơi, nên người ta gọi là cơn đau thắt ngực ổn định. Nếu các mảng xơ vữa trong động mạch vành bị nứt, vỡ ra thì cơn đau thắt ngực có thể xuất hiện cả khi nghỉ ngơi nên người ta gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định.

Biểu hiện và triệu chứng của bệnh tim mạch vành

Người bị bệnh ĐMV có thể biểu hiện ở nhiều mức độ. Có thể người mắc bệnh mạch vành hoàn toàn không có triệu chứng gì cả, chỉ tình cờ phát hiện khi đo điện tâm đồ (ECG).

Tuy nhiên triệu chứng thường thấy nhất là những cơn đau thắt ngực. Cơn đau thắt ngực điển hình kiểu mạch vành được mô tả với các đặc điểm như sau: cảm giác đau thắt, bóp nghẹt, xiết chặt, cũng có thể là cảm giác bỏng rát, kim châm; đau sâu phía sau xương ức, chính giữa tim, hoặc ngực trái, đôi khi đau ở vùng thượng vị dễ làm lầm tưởng là đau dạ dày. Đau ngực có thể không lan, có thể lan xuyên lồng ngực ra phía sau giữa 2 xương bả vai, hoặc lan từ ngực lên hàm, lan lên vai, dọc theo mặt trong cánh tay trái tới ngón út; có thể chỉ thoáng qua vài giây, có thể vài phút, hoặc kéo dài vài chục phút; cơn đau xuất hiện sau gắng sức thể lực hoặc xúc động (ví dụ như đi bộ đường dài, leo cầu thang, khiêng đồ nặng, ăn no, chơi thể thao, giao hợp…) nhưng giảm khi nghỉ ngơi hoặc ngậm thuốc Nitroglycerin dưới lưỡi.

Tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng có đủ những triệu chứng điển hình như vậy mà tùy từng trường hợp sẽ có các dạng biểu hiện khác nhau: Cơn đau thắt ngực điển hình, cơn đau thắt ngực không điển hình, nặng nhất là nhồi máu cơ tim hoặc thậm chí là không có triệu chứng đau ngực (thiếu máu cơ tim im lặng).

Biến chứng của bệnh tim vành đối với cơ thể

Biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất của bệnh mạch vành là nhồi máu cơ tim và đột tử. Các biến cố này thường do sự hình thành cục máu đông làm lấp tắc động mạch vành đã bị hẹp từ trước do mảng xơ vữa ở thành động mạch vành. Các biến chứng khác bao gồm rối loạn nhịp tim và suy tim.

Điều trị bệnh tim mạch vành 

Điều trị nội khoa:

Điều trị bằng thuốc, có thể dùng một hoặc nhiều loại thuốc kết hợp với nhau. Phương pháp này làm giảm được triệu chứng nhưng không giải quyết được nguyên nhân là hẹp lòng động mạch vành.

Điều trị ngoại khoa:

Phẫu thuật làm cầu nối chủ – vành. Vùng cơ tim bị thiếu máu sẽ được cung cấp máu bởi một mạch máu khác vòng qua chỗ động mạch vành bị hẹp hoặc tắc.
Tim mạch can thiệp: Can thiệp động mạch vành qua da là phương pháp không phải phẫu thuật nhưng vừa làm giảm triệu chứng, vừa giải quyết được nguyên nhân là hẹp lòng động mạch vành.

Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp ngoại khoa hay tim mạch can thiệp thì việc sử dụng liên tục các thuốc là hết sức cần thiết để duy trì kết quả của các thủ thuật này. Bên cạnh đó, cần phải thay đổi lối sống như: không hút thuốc lá; luyện tập thể dục thường xuyên, đặc biệt là tập đi bộ; tránh căng thẳng quá mức; ăn nhạt, không ăn mỡ và các phủ tạng động vật, hạn chế ăn trứng, sữa, đồ ngọt; không uống quá nhiều rượu, bia. Và điều trị một số bệnh có liên quan đến bệnh động mạch vành: điều trị bệnh đái tháo đường; ăn chế độ giảm cân, chống béo phì; điều trị rối loạn lipid máu; điều trị bệnh tăng huyết áp

Bệnh Tim Mạch tổng hợp